Trong hoạt động kinh doanh, việc chuyển giao tài sản và nợ từ công ty này sang công ty khác có thể phát sinh khi doanh nghiệp tái cơ cấu, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển nhượng dự án, chuyển nhượng tài sản, chuyển giao hợp đồng hoặc thỏa thuận để một công ty khác tiếp nhận nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp chỉ cần “làm biên bản bàn giao” là đủ. Tùy bản chất giao dịch, doanh nghiệp phải lựa chọn đúng hình thức pháp lý, lập hồ sơ nội bộ, ký kết hợp đồng, xuất hóa đơn, kê khai thuế và trong nhiều trường hợp phải có sự đồng ý của chủ nợ hoặc bên có quyền liên quan.
- 1. Chuyển giao toàn bộ tài sản và nợ thông qua sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp
- 2. Chuyển giao tài sản riêng lẻ giữa hai công ty
- 3. Chuyển giao nợ từ công ty này sang công ty khác có cần chủ nợ đồng ý không?
- 4. Phân biệt chuyển giao nợ và ủy quyền trả nợ thay
- 5. Hồ sơ cần có khi chuyển giao tài sản và nợ giữa các công ty
- 6. Một số rủi ro thường gặp
- Kết luận
1. Chuyển giao toàn bộ tài sản và nợ thông qua sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp
Nếu mục đích là chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của một công ty sang công ty khác, hình thức phù hợp thường là sáp nhập doanh nghiệp hoặc hợp nhất doanh nghiệp.
Theo Luật Doanh nghiệp 2020, sáp nhập công ty là việc một hoặc một số công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại.
Trong khi đó, hợp nhất công ty là việc hai hoặc nhiều công ty hợp nhất thành một công ty mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại.
Điểm quan trọng của hai hình thức này là công ty nhận sáp nhập hoặc công ty hợp nhất không chỉ nhận tài sản mà còn kế thừa cả quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công ty bị sáp nhập, bị hợp nhất. Vì vậy, đây là phương án thường được sử dụng khi doanh nghiệp muốn chuyển giao tổng thể hoạt động kinh doanh, tài sản, hợp đồng, công nợ, lao động và nghĩa vụ pháp lý.
2. Chuyển giao tài sản riêng lẻ giữa hai công ty
Nếu doanh nghiệp chỉ muốn chuyển một số tài sản cụ thể, ví dụ máy móc, xe ô tô, thiết bị, hàng hóa, quyền sử dụng đất, nhà xưởng, phần mềm, quyền tài sản hoặc tài sản gắn liền với dự án thì có thể thực hiện bằng hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, góp vốn bằng tài sản hoặc điều chuyển tài sản theo thỏa thuận hợp pháp.
Trường hợp công ty bán hoặc chuyển nhượng tài sản cho công ty khác, về bản chất đây là giao dịch chuyển quyền sở hữu tài sản. Doanh nghiệp cần có hợp đồng, biên bản bàn giao, hồ sơ chứng minh quyền sở hữu, chứng từ thanh toán và hóa đơn theo quy định. Nghị định 123/2020/NĐ-CP quy định về quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có nghĩa vụ lập và giao hóa đơn cho người mua theo quy định.
Về thuế giá trị gia tăng, Thông tư 219/2013/TT-BTC xác định đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không chịu thuế theo quy định. Vì vậy, khi chuyển nhượng tài sản, doanh nghiệp cần xác định tài sản đó có thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hay không, mức thuế suất áp dụng và điều kiện khấu trừ đầu vào nếu có.
Về thuế thu nhập doanh nghiệp, khoản thu nhập từ thanh lý, chuyển nhượng tài sản thường được xác định là thu nhập khác của doanh nghiệp; phần thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở doanh thu thu được trừ giá trị còn lại của tài sản và các chi phí được trừ liên quan.
3. Chuyển giao nợ từ công ty này sang công ty khác có cần chủ nợ đồng ý không?
Đối với khoản nợ, doanh nghiệp không thể đơn phương chuyển nghĩa vụ trả nợ cho công ty khác nếu chủ nợ không đồng ý, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành hoặc giao dịch tổ chức lại doanh nghiệp có quy định khác.
Theo Bộ luật Dân sự 2015, bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao. Khi nghĩa vụ được chuyển giao hợp pháp, người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ.
Nói cách khác, nếu Công ty A đang nợ Công ty B, sau đó Công ty A muốn chuyển khoản nợ này sang Công ty C thì về nguyên tắc cần có sự đồng ý của Công ty B. Việc đồng ý này nên được lập thành văn bản, có thể dưới dạng thỏa thuận ba bên, phụ lục hợp đồng hoặc văn bản chấp thuận chuyển giao nghĩa vụ.
4. Phân biệt chuyển giao nợ và ủy quyền trả nợ thay
Doanh nghiệp cần phân biệt giữa chuyển giao nghĩa vụ trả nợ và ủy quyền/thỏa thuận để bên thứ ba trả nợ thay.
Nếu chỉ là trả nợ thay, công ty ban đầu vẫn có thể phải chịu trách nhiệm với chủ nợ nếu bên thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về việc bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Ngược lại, nếu là chuyển giao nghĩa vụ đúng nghĩa và được chủ nợ đồng ý, công ty nhận chuyển giao sẽ trở thành bên có nghĩa vụ. Vì vậy, trong hồ sơ cần ghi rõ đây là chuyển giao nghĩa vụ hay chỉ là thanh toán thay/thực hiện nghĩa vụ thay để tránh tranh chấp sau này.
5. Hồ sơ cần có khi chuyển giao tài sản và nợ giữa các công ty
Tùy từng trường hợp, hồ sơ có thể gồm:
Thứ nhất, hồ sơ nội bộ của công ty chuyển giao và công ty nhận chuyển giao, gồm nghị quyết, quyết định của chủ sở hữu, hội đồng thành viên, hội đồng quản trị hoặc đại hội đồng cổ đông nếu giao dịch thuộc thẩm quyền phê duyệt nội bộ.
Thứ hai, hợp đồng chuyển nhượng tài sản, hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng góp vốn bằng tài sản, hợp đồng sáp nhập, hợp nhất hoặc thỏa thuận chuyển giao nghĩa vụ.
Thứ ba, biên bản bàn giao tài sản, hồ sơ pháp lý của tài sản, chứng từ thanh toán, hóa đơn, hồ sơ kế toán và hồ sơ kê khai thuế.
Thứ tư, văn bản đồng ý của chủ nợ hoặc bên có quyền đối với trường hợp chuyển giao nghĩa vụ trả nợ.
Thứ năm, thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu hoặc đăng ký biến động đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng như quyền sử dụng đất, nhà xưởng, xe ô tô, tàu thuyền, nhãn hiệu, quyền sở hữu trí tuệ hoặc tài sản đặc thù khác.
6. Một số rủi ro thường gặp
Rủi ro lớn nhất là doanh nghiệp gọi tên giao dịch là “chuyển giao tài sản và nợ” nhưng hồ sơ lại không thể hiện rõ bản chất pháp lý. Nếu là mua bán tài sản thì phải có giá chuyển nhượng, hóa đơn, chứng từ thanh toán và nghĩa vụ thuế. Nếu là chuyển giao nợ thì phải có sự đồng ý của chủ nợ. Nếu là sáp nhập, hợp nhất thì phải thực hiện thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp.
Rủi ro thứ hai là chuyển tài sản nhưng không xử lý đúng hóa đơn, thuế GTGT, thuế TNDN và hạch toán kế toán. Điều này có thể dẫn đến bị loại chi phí, truy thu thuế hoặc bị xác định là giao dịch không có đủ căn cứ.
Rủi ro thứ ba là chuyển giao tài sản đang thế chấp, cầm cố, bị kê biên, bị hạn chế chuyển dịch hoặc đang là đối tượng tranh chấp. Với các tài sản này, doanh nghiệp cần rà soát kỹ hợp đồng bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm và văn bản chấp thuận của bên nhận bảo đảm trước khi chuyển giao.
Kết luận
Chuyển giao tài sản và nợ từ công ty này sang công ty khác có thể thực hiện được nhưng phải lựa chọn đúng hình thức pháp lý. Nếu chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ thì nên xem xét sáp nhập, hợp nhất hoặc các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp. Nếu chỉ chuyển một số tài sản riêng lẻ thì thực hiện theo hợp đồng mua bán, chuyển nhượng hoặc góp vốn bằng tài sản. Riêng đối với khoản nợ, về nguyên tắc phải có sự đồng ý của chủ nợ thì việc chuyển giao nghĩa vụ mới có giá trị pháp lý đầy đủ. Do đó, trước khi thực hiện, doanh nghiệp nên rà soát tài sản, công nợ, hợp đồng, nghĩa vụ thuế và lập hồ sơ chặt chẽ để hạn chế tranh chấp về sau.


Để lại một phản hồi