Sao y và công chứng khác nhau như thế nào?

Sao y và công chứng khác nhau như thế nào?

Sao y và công chứng khác nhau như thế nào? Đây là vấn đề dễ gây nhầm lẫn bởi trong giao tiếp hằng ngày, nhiều người thường nói “đi công chứng căn cước”, “photo công chứng bằng đại học” hoặc “sao y công chứng giấy tờ”. Tuy nhiên, xét dưới góc độ pháp lý, sao y, chứng thực bản sao từ bản chính và công chứng là những hoạt động không hoàn toàn giống nhau. Chúng khác biệt về đối tượng, mục đích, người thực hiện, trình tự, giá trị pháp lý và trường hợp sử dụng. Hiểu đúng từng khái niệm sẽ giúp người dân chuẩn bị hồ sơ chính xác, tránh mất thời gian đi lại hoặc thực hiện một thủ tục không cần thiết.

1. Sao y và công chứng được hiểu như thế nào?

Muốn phân biệt sao y và công chứng, trước hết cần xác định đúng ý nghĩa pháp lý của từng thuật ngữ. Đây cũng là điểm thường bị bỏ qua trong nhiều bài viết khi đồng nhất “sao y” với “photo công chứng”.

Sao y là gì?

Theo khoản 10 Điều 3 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP, bản sao y là bản sao đầy đủ, chính xác nội dung của bản gốc hoặc bản chính văn bản, được trình bày theo thể thức và kỹ thuật quy định.

Hiểu đơn giản, sao y là việc tạo ra một bản có đầy đủ nội dung giống với bản gốc hoặc bản chính của văn bản. Trên bản sao phải có các thành phần thể thức như tên cơ quan, tổ chức sao văn bản, chữ “SAO Y”, số và ký hiệu bản sao, địa danh, ngày tháng năm sao, chức vụ, họ tên, chữ ký của người có thẩm quyền và con dấu hoặc chữ ký số theo quy định.

Nghị định số 30/2020/NĐ-CP chủ yếu điều chỉnh công tác văn thư của cơ quan, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định việc sao văn bản do cơ quan mình ban hành, văn bản do cơ quan khác gửi đến và quy định thẩm quyền ký các bản sao. Bản sao y được lập đúng quy định có giá trị pháp lý như bản chính. 

Bên cạnh sao y, pháp luật về công tác văn thư còn ghi nhận:

  • Bản sao lục: Là bản sao đầy đủ, chính xác nội dung của bản sao y và được trình bày theo thể thức, kỹ thuật quy định.
  • Bản trích sao: Là bản sao chính xác phần nội dung cần trích từ bản gốc hoặc bản chính văn bản.

Như vậy, “sao y” theo nghĩa pháp lý của Nghị định số 30/2020/NĐ-CP là một nghiệp vụ văn thư. Nó không hoàn toàn đồng nhất với việc người dân mang căn cước, giấy khai sinh hoặc bằng tốt nghiệp đến Văn phòng công chứng để photocopy và đóng dấu.

Chứng thực bản sao từ bản chính là gì?

Trong đời sống, cụm từ “sao y” thường được dùng để chỉ việc chứng thực bản sao từ bản chính. Theo Văn bản hợp nhất số 753/VBHN-BTP năm 2026, chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.

Ví dụ:

  • Chứng thực bản sao thẻ căn cước;
  • Chứng thực bản sao giấy khai sinh;
  • Chứng thực bản sao bằng tốt nghiệp, bảng điểm;
  • Chứng thực bản sao hộ chiếu, giấy phép lái xe;
  • Chứng thực bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;
  • Chứng thực bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người thực hiện chứng thực kiểm tra bản chính, đối chiếu với bản sao và xác nhận rằng nội dung bản sao đúng với bản chính được xuất trình. Người thực hiện chứng thực không xác nhận toàn bộ nội dung của giấy tờ là đúng sự thật trong thực tế, không xác nhận tài sản đang còn thuộc quyền sở hữu của người đứng tên và cũng không bảo đảm giấy tờ chưa có biến động sau thời điểm cấp.

Khoản 2 Điều 3 quy định về chứng thực hiện hành xác định bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 

Công chứng là gì?

Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2024 quy định công chứng là dịch vụ công do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện để chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng, pháp luật giao Chính phủ quy định phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.

Đối tượng chính của hoạt động công chứng là giao dịch, chẳng hạn:

  • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
  • Hợp đồng tặng cho nhà, đất;
  • Hợp đồng thế chấp bất động sản;
  • Hợp đồng ủy quyền;
  • Văn bản thỏa thuận phân chia di sản;
  • Văn bản khai nhận di sản;
  • Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng;
  • Hợp đồng mua bán, tặng cho hoặc thế chấp tài sản trong trường hợp pháp luật yêu cầu công chứng.

Khi thực hiện công chứng, công chứng viên không chỉ đối chiếu bản sao với bản chính. Công chứng viên còn phải kiểm tra chủ thể tham gia, giấy tờ nhân thân, quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, sự tự nguyện, năng lực hành vi, nội dung giao dịch và các điều kiện có hiệu lực khác.

Công chứng viên phải từ chối công chứng nếu giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, có dấu hiệu giả tạo, cưỡng ép hoặc người yêu cầu không chứng minh được quyền đối với tài sản. Luật Công chứng số 46/2024/QH15 được ban hành ngày 26/11/2024 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. 

2. Sao y và công chứng khác nhau như thế nào?

Điểm giống nhau dễ nhận thấy là cả sao y và công chứng đều có thể tạo ra một văn bản mang chữ ký của người có thẩm quyền và con dấu của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của hai hoạt động hoàn toàn khác nhau.

Phân biệt sao y, chứng thực bản sao và công chứng
Tiêu chíSao yChứng thực bản sao từ bản chínhCông chứng
Khái niệmTạo bản sao đầy đủ, chính xác từ bản gốc hoặc bản chính văn bản theo nghiệp vụ văn thưĐối chiếu và xác nhận bản sao đúng với bản chính được xuất trìnhChứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch
Đối tượngVăn bản thuộc phạm vi quản lý, lưu trữ của cơ quan, tổ chứcGiấy tờ, văn bản được phép dùng làm bản chính để chứng thựcHợp đồng, giao dịch hoặc văn bản giao dịch
Căn cứ pháp lý chínhNghị định số 30/2020/NĐ-CPNghị định số 23/2015/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sungLuật Công chứng năm 2024 và pháp luật chuyên ngành
Chủ thể thực hiệnCơ quan, tổ chức có thẩm quyền sao văn bản theo pháp luật về văn thưUBND cấp xã, công chứng viên, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo thẩm quyềnCông chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng; cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong phạm vi luật định
Nội dung xác nhậnBản sao đầy đủ, chính xác so với bản gốc hoặc bản chínhBản sao đúng với bản chính dùng để đối chiếuGiao dịch xác thực, hợp pháp; chủ thể tự nguyện và có năng lực phù hợp
Giá trị pháp lýBản sao đúng quy định có giá trị như bản chínhĐược sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu, trừ trường hợp pháp luật quy định khácCó hiệu lực thi hành đối với các bên và có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên vô hiệu
Mức độ kiểm traĐối chiếu về nội dung và hình thức của văn bản được saoKiểm tra sự phù hợp giữa bản sao và bản chínhKiểm tra chủ thể, ý chí, nội dung giao dịch, tài sản và các điều kiện pháp lý liên quan
Kết quảBản sao yBản sao có lời chứng chứng thựcVăn bản công chứng
Cách sử dụng phổ biếnLưu hành, cung cấp hoặc lưu trữ văn bản trong hoạt động của cơ quan, tổ chứcNộp hồ sơ hành chính, tuyển dụng, học tập, giao dịch thông thườngXác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong giao dịch

Khác nhau về đối tượng thực hiện

Sao y và chứng thực bản sao hướng tới việc tạo ra bản sao của một giấy tờ hoặc văn bản đã tồn tại. Công chứng hướng tới việc chứng nhận một giao dịch đang được các bên xác lập.

Ví dụ, khi một người mang thẻ căn cước đến Văn phòng công chứng để làm bản photocopy có dấu xác nhận, công chứng viên đang thực hiện việc chứng thực bản sao từ bản chính, không phải công chứng thẻ căn cước.

Ngược lại, khi các bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng, công chứng viên phải xem xét nội dung hợp đồng, tư cách chủ thể, quyền sử dụng đất, ý chí tự nguyện và các điều kiện của giao dịch. Đây mới là hoạt động công chứng.

Khác nhau về phạm vi xác nhận

Trong chứng thực bản sao, người thực hiện chủ yếu xác nhận một vấn đề: bản sao có đúng với bản chính được xuất trình hay không.

Ví dụ, bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đầy đủ các trang và nội dung giống với bản chính thì có thể được chứng thực. Tuy nhiên, lời chứng đó không đồng nghĩa với việc cơ quan chứng thực xác nhận:

  • Người có tên trên Giấy chứng nhận hiện vẫn là người sử dụng đất;
  • Thửa đất không có tranh chấp;
  • Tài sản không bị kê biên;
  • Quyền sử dụng đất chưa được chuyển nhượng;
  • Giấy chứng nhận chưa bị thu hồi hoặc mất hiệu lực;
  • Thửa đất đủ điều kiện thực hiện mọi giao dịch.

Trong khi đó, khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công chứng viên phải kiểm tra nhiều vấn đề liên quan đến điều kiện giao dịch. Nếu có căn cứ cho rằng hồ sơ chưa rõ, tài sản chưa được mô tả cụ thể, người tham gia có dấu hiệu bị cưỡng ép hoặc năng lực hành vi có vấn đề, công chứng viên phải yêu cầu làm rõ, xác minh hoặc giám định; nếu không làm rõ được thì từ chối công chứng.

Khác nhau về người có thẩm quyền

Hoạt động công chứng chỉ do công chứng viên thực hiện. Nhân viên tiếp nhận hồ sơ, thư ký nghiệp vụ hoặc người làm việc tại Văn phòng công chứng không có quyền tự mình ký lời chứng công chứng.

Đối với chứng thực bản sao từ bản chính, pháp luật hiện hành quy định thẩm quyền cho:

  • Chủ tịch UBND cấp xã và người được ủy quyền hoặc phân công thực hiện nhiệm vụ chứng thực theo quy định;
  • Công chứng viên của Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng;
  • Viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự thuộc cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Vì công chứng viên đồng thời được thực hiện một số việc chứng thực nên Văn phòng công chứng có thể cung cấp cả hai loại dịch vụ. Đây là nguyên nhân khiến người dân thường gọi chung mọi hoạt động tại Văn phòng công chứng là “công chứng”.

Khác nhau về giá trị pháp lý

Theo Điều 26 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP, bản sao y, bản sao lục và bản trích sao được thực hiện đúng quy định có giá trị pháp lý như bản chính.

Đối với bản sao được chứng thực từ bản chính, giá trị pháp lý là sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Văn bản công chứng có giá trị pháp lý cao hơn ở phương diện giao dịch. Điều 6 Luật Công chứng năm 2024 quy định:

  • Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên ký và tổ chức hành nghề công chứng đóng dấu; văn bản công chứng điện tử có hiệu lực theo quy định riêng;
  • Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan;
  • Văn bản công chứng là cơ sở để các bên đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục liên quan đến giao dịch;
  • Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên vô hiệu.

Như vậy, bản sao chứng thực chủ yếu chứng minh sự giống nhau giữa bản sao và bản chính, còn văn bản công chứng chứng minh và làm phát sinh giá trị pháp lý của giao dịch được công chứng.

Khác nhau về trách nhiệm pháp lý

Người yêu cầu chứng thực phải chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp lệ và hợp pháp của bản chính được sử dụng để chứng thực. Người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính.

Đối với công chứng, công chứng viên phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, trung thực và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động hành nghề. Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại gây ra cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi của công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình theo quy định.

3. Khi nào cần sao y, khi nào cần chứng thực và khi nào phải công chứng?

Không phải cứ nhìn thấy yêu cầu “bản sao” là phải đến Văn phòng công chứng. Trước khi thực hiện, cần đọc chính xác thành phần hồ sơ để xác định tài liệu được yêu cầu thuộc trường hợp nào.

Trường hợp cần bản sao y

Bản sao y theo pháp luật về công tác văn thư thường được sử dụng khi cơ quan, tổ chức cần sao một văn bản thuộc phạm vi quản lý của mình để:

  • Gửi cho cơ quan, đơn vị có liên quan;
  • Lưu hành trong nội bộ;
  • Cung cấp văn bản cho cá nhân, tổ chức theo thẩm quyền;
  • Lưu trữ hồ sơ;
  • Thay thế bản chính trong quá trình giải quyết công việc;
  • Chuyển đổi văn bản giấy sang văn bản điện tử hoặc ngược lại theo quy định.

Một cá nhân không thể tự photocopy văn bản rồi ghi “sao y bản chính”, ký tên để làm phát sinh giá trị như một bản sao y hợp pháp. Việc sao văn bản phải do đúng cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền thực hiện.

Nghị định số 30/2020/NĐ-CP chỉ áp dụng trực tiếp đối với cơ quan, tổ chức nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, dấu “sao y” do doanh nghiệp tư nhân tự đóng lên bản photocopy không mặc nhiên thay thế bản sao có chứng thực trong mọi thủ tục. Giá trị của tài liệu đó còn phụ thuộc vào quy định chuyên ngành hoặc việc cơ quan tiếp nhận có chấp nhận bản sao do doanh nghiệp tự xác nhận hay không.

Trường hợp cần chứng thực bản sao từ bản chính

Người dân thường cần chứng thực khi thành phần hồ sơ ghi rõ:

  • Bản sao có chứng thực;
  • Bản sao chứng thực từ bản chính;
  • Bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực;
  • Bản sao hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Các loại giấy tờ thường được chứng thực gồm thẻ căn cước, hộ chiếu, giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, bằng cấp, chứng chỉ, giấy phép lái xe, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ về quyền sở hữu tài sản.

Tuy nhiên, Điều 6 Văn bản hợp nhất số 753/VBHN-BTP quy định nếu pháp luật chỉ yêu cầu nộp bản sao thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận không được bắt buộc người dân phải nộp bản sao có chứng thực. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan tiếp nhận có thể yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu hoặc tiến hành xác minh nếu có căn cứ cho rằng bản sao giả mạo, bất hợp pháp.

Nếu pháp luật đã yêu cầu nộp bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực thì cơ quan tiếp nhận không được yêu cầu xuất trình thêm bản chính, trừ trường hợp có căn cứ nghi ngờ tài liệu giả mạo hoặc bất hợp pháp.

Trường hợp phải công chứng

Các bên phải công chứng khi pháp luật quy định giao dịch bắt buộc phải công chứng. Trường hợp pháp luật không bắt buộc, các bên vẫn có thể tự nguyện công chứng để nâng cao mức độ an toàn pháp lý.

Công chứng thường cần thiết khi giao dịch có giá trị lớn, liên quan đến tài sản quan trọng hoặc có khả năng phát sinh tranh chấp, chẳng hạn:

  • Chuyển nhượng, tặng cho hoặc thế chấp quyền sử dụng đất;
  • Mua bán, tặng cho nhà ở trong trường hợp pháp luật yêu cầu;
  • Thỏa thuận phân chia di sản là bất động sản;
  • Khai nhận di sản;
  • Góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc tài sản phải đăng ký quyền sở hữu;
  • Hợp đồng ủy quyền định đoạt bất động sản;
  • Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng;
  • Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hoặc hủy bỏ giao dịch đã được công chứng.

Việc chỉ sao y hoặc chứng thực bản sao của một hợp đồng do các bên tự ký không thể thay thế thủ tục công chứng nếu pháp luật quy định hợp đồng đó bắt buộc phải công chứng.

Ví dụ, các bên lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau đó photocopy và yêu cầu chứng thực bản sao. Lời chứng bản sao chỉ xác nhận bản photocopy đúng với giấy được xuất trình; nó không làm cho hợp đồng chuyển nhượng đáp ứng điều kiện về công chứng.

“Sao y công chứng” có phải thuật ngữ pháp lý không?

“Sao y công chứng” không phải là tên gọi chuẩn của một thủ tục độc lập. Cụm từ này thường được dùng với một trong hai ý nghĩa:

  • Chứng thực bản sao từ bản chính tại Văn phòng công chứng;
  • Xin cấp bản sao của một văn bản, hợp đồng đã được công chứng.

Hai trường hợp này có thủ tục khác nhau. Nếu cần bản sao căn cước hoặc bằng tốt nghiệp, người dân yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính. Nếu bị mất bản hợp đồng công chứng, người có quyền yêu cầu phải đề nghị tổ chức đang lưu trữ hồ sơ cấp bản sao văn bản công chứng theo Điều 69 Luật Công chứng năm 2024.

4. Những vấn đề thường gặp khi sao y và công chứng

Có thể sao y, chứng thực tại Văn phòng công chứng không?

Theo cách gọi thông thường, câu trả lời là có. Công chứng viên của Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

Tuy nhiên, tên gọi chính xác của thủ tục là chứng thực bản sao từ bản chính, không phải công chứng bản sao. Việc thực hiện tại Văn phòng công chứng không làm thay đổi bản chất của hoạt động chứng thực.

Người dân cũng có thể yêu cầu chứng thực tại UBND cấp xã thuận tiện mà không phụ thuộc vào nơi thường trú hoặc tạm trú.

Cần mang theo giấy tờ gì để chứng thực bản sao?

Người yêu cầu cần xuất trình:

  • Bản chính giấy tờ, văn bản dùng làm cơ sở chứng thực;
  • Bản sao cần chứng thực.

Nếu người yêu cầu chỉ mang bản chính thì cơ quan, tổ chức có thể tiến hành sao chụp để chứng thực, trừ trường hợp không có phương tiện sao chụp.

Đối với bản chính do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận, về nguyên tắc phải được hợp pháp hóa lãnh sự trước khi chứng thực, trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi, có lại.

Những giấy tờ nào không được chứng thực bản sao?

Theo Điều 22 Văn bản hợp nhất số 753/VBHN-BTP, những bản chính sau không được dùng làm cơ sở để chứng thực:

  • Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm hoặc bớt nội dung không hợp lệ;
  • Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung;
  • Bản chính có đóng dấu mật hoặc ghi rõ không được sao chụp;
  • Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc xâm phạm quyền của cá nhân, tổ chức;
  • Giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận nhưng chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn;
  • Giấy tờ do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Sao y, chứng thực có thời hạn bao lâu?

Pháp luật không quy định một thời hạn chung 3 tháng hoặc 6 tháng cho mọi bản sao y hoặc bản sao chứng thực.

Tuy nhiên, khả năng sử dụng của bản sao còn phụ thuộc vào:

  • Thời hạn của giấy tờ gốc;
  • Việc giấy tờ có bị thu hồi, hủy bỏ hoặc thay thế hay không;
  • Thông tin trên giấy tờ có còn phản ánh đúng tình trạng hiện tại hay không;
  • Yêu cầu của pháp luật chuyên ngành đối với từng thủ tục.

Chẳng hạn, bản sao chứng thực hộ chiếu không thể được sử dụng như một hộ chiếu còn hiệu lực khi bản chính đã hết hạn. Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũ không thể chứng minh thông tin hiện tại nếu doanh nghiệp đã thay đổi người đại diện theo pháp luật.

Văn bản công chứng cũng không được xác định thời hạn theo cách tính chung 3 tháng hoặc 6 tháng. Hiệu lực của văn bản phụ thuộc vào nội dung giao dịch, thỏa thuận của các bên và quy định pháp luật. Hợp đồng có thể hết hiệu lực khi nghĩa vụ đã hoàn thành, thời hạn hợp đồng kết thúc, các bên thỏa thuận chấm dứt hoặc văn bản bị Tòa án tuyên vô hiệu.

Thời gian thực hiện có giống nhau không?

Chứng thực bản sao thường được thực hiện ngay trong ngày tiếp nhận. Nếu tiếp nhận yêu cầu sau 15 giờ thì có thể trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo. Trường hợp yêu cầu chứng thực nhiều loại giấy tờ, số lượng bản sao lớn hoặc nội dung phức tạp thì thời gian có thể kéo dài thêm không quá hai ngày làm việc hoặc dài hơn theo thỏa thuận bằng văn bản.

Theo Điều 45 Luật Công chứng năm 2024, thời hạn công chứng thông thường không quá hai ngày làm việc; giao dịch có nội dung phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày làm việc. Thời gian xác minh, giám định và niêm yết việc tiếp nhận công chứng văn bản phân chia di sản không tính vào thời hạn này.

Như vậy, chứng thực bản sao thường đơn giản và nhanh hơn công chứng bởi người thực hiện chỉ cần kiểm tra bản chính và đối chiếu bản sao. Công chứng có thể cần xác minh nhân thân, tình trạng tài sản, quan hệ thừa kế hoặc điều kiện giao dịch.

Phí chứng thực và phí công chứng có giống nhau không?

Hai loại phí được xác định theo những cơ chế khác nhau.

Theo Thông tư số 226/2016/TT-BTC, phí chứng thực bản sao từ bản chính là 2.000 đồng/trang đối với trang thứ nhất và trang thứ hai; từ trang thứ ba trở lên thu 1.000 đồng/trang nhưng tối đa không quá 200.000 đồng cho một bản. Trang dùng để tính phí là trang của bản chính.

Phí công chứng giao dịch có thể được tính theo giá trị tài sản, giá trị hợp đồng hoặc theo mức cố định tùy từng loại việc. Ngoài phí công chứng, người yêu cầu còn có thể phải thanh toán giá dịch vụ soạn thảo, đánh máy, sao chụp, dịch thuật, công chứng ngoài trụ sở hoặc những chi phí hợp pháp khác.

Bản sao điện tử có thay thế bản giấy không?

Pháp luật đã cho phép thực hiện chứng thực bản sao điện tử từ bản chính để sử dụng trong thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Đây là bản điện tử do cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào bản chính giấy để chứng thực dưới dạng điện tử.

Bản sao điện tử được chứng thực không đơn thuần là ảnh chụp hoặc bản scan do người dân tự thực hiện. Tài liệu phải có chữ ký số và thông tin chứng thực của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định về giao dịch điện tử và thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. 

Trường hợp giấy tờ đã được cơ quan nhà nước cấp dưới dạng điện tử, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm sử dụng bản điện tử đó và không được yêu cầu người dân in ra giấy rồi chứng thực lại, trừ khi có căn cứ cho rằng tài liệu điện tử giả mạo hoặc bất hợp pháp.

Kết luận

Sao y và công chứng không phải là một thủ tục. Sao y là nghiệp vụ tạo bản sao đầy đủ, chính xác từ bản gốc hoặc bản chính văn bản; chứng thực bản sao là việc xác nhận bản sao đúng với bản chính; còn công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của một giao dịch. Vì vậy, “photo công chứng” căn cước, bằng cấp hay giấy khai sinh thực chất thường là chứng thực bản sao từ bản chính, không phải công chứng. Trước khi chuẩn bị hồ sơ, người dân nên đọc kỹ yêu cầu là bản sao thường, bản sao có chứng thực hay văn bản phải công chứng để lựa chọn đúng thủ tục, tiết kiệm chi phí và tránh phải thực hiện lại.

Bạn cảm thấy nội dung này thế nào?
★ ★ ★ ★ ★

Đã có 1430 lượt đánh giá với điểm trung bình là 5/5.

Để lại một phản hồi

Lưu ý: Trường hợp khẩn cấp, Quý khách vui lòng liên hệ hotline 1900.0164 để được hỗ trợ kịp thời