Gửi giữ di chúc và công bố di chúc được lưu giữ là vấn đề rất quan trọng trong thừa kế theo di chúc, bởi một bản di chúc dù được lập hợp pháp nhưng nếu bị thất lạc, hư hại, bị che giấu hoặc không được công bố đúng lúc thì ý chí cuối cùng của người để lại di sản vẫn có thể không được thực hiện trọn vẹn. Trong thực tế, nhiều tranh chấp thừa kế không bắt đầu từ việc “có di chúc hay không” mà bắt đầu từ câu hỏi: ai đang giữ di chúc; di chúc có còn nguyên vẹn không; khi người lập di chúc chết thì ai có quyền yêu cầu công bố; công chứng viên phải công bố như thế nào; bản gốc di chúc sau khi công bố sẽ được giao cho ai. Vì vậy, hiểu đúng quy định về gửi giữ di chúc và công bố di chúc được lưu giữ sẽ giúp người lập di chúc bảo vệ ý chí của mình, đồng thời giúp người thừa kế tránh lúng túng khi làm thủ tục khai nhận, phân chia di sản.
- 1. Gửi giữ di chúc là gì và vì sao nên lưu giữ di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng?
- 2. Thủ tục gửi giữ di chúc tại Văn phòng công chứng được thực hiện như thế nào?
- 3. Ai có quyền yêu cầu công bố di chúc được lưu giữ?
- 4. Thủ tục công bố di chúc lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng
- 5. Những lưu ý quan trọng khi gửi giữ và công bố di chúc
- Kết luận
1. Gửi giữ di chúc là gì và vì sao nên lưu giữ di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng?
Theo Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ bản di chúc hoặc gửi người khác giữ bản di chúc. Nếu tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản, giữ gìn theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về công chứng; nếu người khác giữ bản di chúc thì người giữ có nghĩa vụ giữ bí mật nội dung di chúc, bảo quản bản di chúc, thông báo ngay cho người lập di chúc nếu di chúc bị thất lạc, hư hại và giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và có ít nhất hai người làm chứng.
Nói một cách dễ hiểu, gửi giữ di chúc là việc người lập di chúc giao bản di chúc của mình cho một chủ thể khác cất giữ, bảo quản để khi người lập di chúc qua đời thì bản di chúc đó được công bố, sử dụng làm căn cứ thực hiện việc thừa kế. Chủ thể nhận giữ có thể là cá nhân mà người lập di chúc tin tưởng; cũng có thể là tổ chức hành nghề công chứng như Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng. Trong đó, việc lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thường được đánh giá là an toàn hơn, bởi có quy trình tiếp nhận, niêm phong, bảo quản, lập giấy nhận lưu giữ và công bố theo thủ tục pháp lý rõ ràng.

Từ ngày 01/7/2025, Luật Công chứng 2024 có hiệu lực và dành riêng Điều 61 để quy định về gửi giữ di chúc và công bố di chúc được lưu giữ. Theo đó, người lập di chúc có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nhận lưu giữ di chúc của mình; khi nhận lưu giữ, công chứng viên phải niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di chúc, ghi giấy nhận lưu giữ và giao giấy này cho người lập di chúc. Giấy nhận lưu giữ di chúc phải có thông tin về tổ chức hành nghề công chứng nhận lưu giữ, công chứng viên niêm phong di chúc và người lập di chúc.
Điểm đáng chú ý ở đây là thủ tục nhận lưu giữ di chúc không đơn giản là “gửi một phong bì” cho Văn phòng công chứng. Công chứng viên phải chứng kiến việc niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di chúc; việc nhận lưu giữ phải có giấy tờ ghi nhận rõ ràng; thông tin về tổ chức công chứng, công chứng viên và người lập di chúc phải được thể hiện trong giấy nhận lưu giữ. Chính sự chặt chẽ này giúp hạn chế nguy cơ sau này có người cho rằng di chúc đã bị tráo đổi, bị sửa chữa, bị cất giấu hoặc không còn nguyên vẹn.
Việc lưu giữ di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng đặc biệt phù hợp trong những trường hợp di sản có giá trị lớn như nhà đất, xe ô tô, tiền gửi ngân hàng, cổ phần, phần vốn góp; gia đình có nhiều người thừa kế, có con riêng, con chung, con nuôi, người phụ thuộc; người lập di chúc muốn giữ bí mật nội dung di chúc khi còn sống nhưng vẫn bảo đảm sau khi mình qua đời thì di chúc được công bố đúng trình tự. Đây cũng là lựa chọn hợp lý khi người lập di chúc lo ngại bản di chúc để ở nhà có thể bị thất lạc, bị lấy mất, bị tiêu hủy hoặc bị người khác gây áp lực để sửa đổi.
Tuy nhiên, cũng cần hiểu đúng rằng gửi giữ di chúc không làm phát sinh quyền thừa kế ngay lập tức. Di chúc chỉ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế tức là thời điểm người lập di chúc chết. Trong thời gian còn sống, người lập di chúc vẫn có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc; đồng thời vẫn có quyền định đoạt tài sản của mình bằng các giao dịch hợp pháp khác. Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định nếu một người để lại nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
2. Thủ tục gửi giữ di chúc tại Văn phòng công chứng được thực hiện như thế nào?
Về nguyên tắc, người lập di chúc có thể mang bản di chúc đã lập đến tổ chức hành nghề công chứng để yêu cầu nhận lưu giữ. Trường hợp di chúc đồng thời được lập, công chứng và lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng viên sẽ thực hiện thủ tục công chứng di chúc trước, sau đó thực hiện việc nhận lưu giữ nếu người lập di chúc có yêu cầu. Trường hợp di chúc đã được lập trước đó, công chứng viên sẽ tiếp nhận yêu cầu lưu giữ theo quy định, thực hiện việc niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di chúc và lập giấy nhận lưu giữ.
Người lập di chúc khi yêu cầu gửi giữ di chúc nên chuẩn bị các giấy tờ cơ bản sau:
- Bản di chúc cần gửi giữ, có thể là di chúc đã được công chứng hoặc di chúc bằng văn bản do người lập di chúc lập trước đó;
- Giấy tờ tùy thân của người lập di chúc, như căn cước, căn cước công dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp pháp khác;
- Thông tin liên hệ của người lập di chúc, để tổ chức hành nghề công chứng có căn cứ liên hệ trong trường hợp cần thiết;
- Thông tin người được chỉ định giữ bản gốc sau khi công bố, nếu người lập di chúc muốn chỉ định trước;
- Thông tin người công bố di chúc hoặc công chứng viên được chỉ định công bố di chúc, nếu người lập di chúc có ý chí cụ thể về vấn đề này;
- Giấy tờ khác có liên quan, tùy theo yêu cầu quản lý hồ sơ của tổ chức hành nghề công chứng.
Khi nhận lưu giữ, công chứng viên phải niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di chúc. Đây là thao tác có ý nghĩa pháp lý rất lớn, bởi niêm phong giúp bảo đảm bản di chúc được giữ trong tình trạng nguyên vẹn; hạn chế nguy cơ có người mở ra xem, sao chụp, sửa chữa, thay thế hoặc làm lộ nội dung di chúc trái ý chí của người lập di chúc. Sau khi niêm phong, công chứng viên ghi giấy nhận lưu giữ và giao cho người lập di chúc. Người lập di chúc cần cất giữ giấy này cẩn thận, bởi đây là căn cứ quan trọng để người thừa kế hoặc người liên quan biết di chúc đang được lưu giữ tại đâu.
Một câu hỏi thường gặp là: di chúc gửi giữ tại Văn phòng công chứng có bắt buộc phải công chứng không? Về mặt khái niệm, gửi giữ di chúc và công chứng di chúc là hai việc khác nhau. Công chứng di chúc là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của di chúc theo thủ tục công chứng; còn gửi giữ di chúc là việc tổ chức hành nghề công chứng nhận bảo quản bản di chúc. Trong thực tế, nếu đã lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng để bảo đảm an toàn pháp lý, người lập di chúc thường nên cân nhắc công chứng di chúc trước khi gửi giữ, nhất là khi di sản là bất động sản hoặc tài sản có giá trị lớn. Một bản di chúc vừa được công chứng, vừa được lưu giữ thường có khả năng hạn chế tranh chấp tốt hơn so với bản di chúc viết tay tự giữ tại nhà.
Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đang nhận lưu giữ di chúc sau đó chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể thì Luật Công chứng 2024 quy định tổ chức này phải thỏa thuận với người lập di chúc về việc chuyển di chúc cho tổ chức hành nghề công chứng khác lưu giữ. Nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì di chúc và phí lưu giữ di chúc phải được trả lại cho người lập di chúc. Nếu không liên hệ được với người lập di chúc thì di chúc được chuyển giao cho tổ chức hành nghề công chứng tiếp nhận hồ sơ của tổ chức đã chấm dứt hoạt động, chuyển đổi hoặc giải thể.
Quy định này rất thực tế, bởi người lập di chúc có thể đã gửi giữ di chúc nhiều năm, trong khi tổ chức hành nghề công chứng có thể thay đổi mô hình, chuyển đổi, giải thể hoặc chấm dứt hoạt động. Pháp luật không để bản di chúc “treo lơ lửng” mà đặt ra cơ chế xử lý: ưu tiên thỏa thuận với người lập di chúc; nếu không được thì trả lại di chúc và phí lưu giữ; nếu không liên hệ được thì chuyển giao cho tổ chức tiếp nhận hồ sơ. Nhờ vậy, bản di chúc vẫn có nơi quản lý rõ ràng, tránh tình trạng thất lạc hồ sơ.
Về chi phí, Thông tư 257/2016/TT-BTC quy định phí nhận lưu giữ di chúc là 100.000 đồng/trường hợp; ngoài ra, nếu người yêu cầu có nhu cầu công chứng di chúc thì phí công chứng di chúc là 50.000 đồng/trường hợp; phí cấp bản sao văn bản công chứng được tính theo số trang và có mức tối đa theo quy định. Ngoài khoản phí theo quy định, tùy từng trường hợp cụ thể, người yêu cầu có thể phải trả thêm thù lao soạn thảo, đánh máy, sao chụp, dịch thuật hoặc chi phí khác nếu có sử dụng dịch vụ theo yêu cầu.
3. Ai có quyền yêu cầu công bố di chúc được lưu giữ?
Công bố di chúc là bước đưa nội dung di chúc ra cho những người có liên quan biết sau khi người lập di chúc chết. Theo Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc. Nếu người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố; nếu không chỉ định hoặc người được chỉ định từ chối công bố thì những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người công bố. Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc; người nhận được bản sao có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc.
Đối với di chúc đang được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng, Nghị định 104/2025/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể hơn. Khi nhận được yêu cầu công bố di chúc, tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc phân công một công chứng viên của tổ chức mình thực hiện việc công bố, trừ trường hợp người lập di chúc đã chỉ định công chứng viên khác hiện đang hành nghề tại chính tổ chức đó là người công bố di chúc. Người yêu cầu công bố di chúc phải là người thừa kế của người lập di chúc, phải xuất trình giấy tờ chứng minh người để lại di chúc đã chết, giấy tờ chứng minh quan hệ với người lập di chúc; cung cấp thông tin liên quan đến di chúc được gửi giữ nếu có và chịu chi phí liên quan đến việc công bố.
Như vậy, không phải bất kỳ ai biết có di chúc được lưu giữ cũng có quyền yêu cầu công bố. Người yêu cầu công bố phải là người thừa kế của người lập di chúc. Trên thực tế, người này có thể là người thừa kế theo di chúc, người thừa kế theo pháp luật hoặc người thuộc diện có quyền lợi liên quan đến di sản. Để chứng minh tư cách của mình, người yêu cầu thường cần giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người lập di chúc đã chết; giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, giấy tờ nuôi con nuôi, căn cước hoặc tài liệu nhân thân khác chứng minh quan hệ với người để lại di sản.
Điểm cần lưu ý là công bố di chúc không đồng nghĩa với phân chia di sản ngay lập tức. Công bố di chúc chỉ là việc thông báo, đọc, gửi bản sao và xác nhận nội dung di chúc cho những người liên quan. Sau khi di chúc được công bố, những người thừa kế vẫn phải thực hiện các thủ tục tiếp theo như họp mặt thừa kế, khai nhận di sản, thỏa thuận phân chia di sản, đăng ký biến động nhà đất, sang tên tài sản hoặc giải quyết tranh chấp nếu phát sinh. Bộ luật Dân sự cũng quy định sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận về cử người quản lý di sản, người phân chia di sản và cách thức phân chia di sản.
Đối với di chúc lập bằng tiếng nước ngoài, Bộ luật Dân sự 2015 quy định bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng hoặc chứng thực. Nghị định 104/2025/NĐ-CP cũng yêu cầu nếu di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và phải được chứng thực chữ ký người dịch trước khi công bố. Đây là quy định rất cần thiết để những người thừa kế, người liên quan, công chứng viên và cơ quan nhà nước có thể hiểu đúng nội dung di chúc, tránh việc mỗi người tự dịch, tự hiểu theo một cách khác nhau.
4. Thủ tục công bố di chúc lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng
Theo Nghị định 104/2025/NĐ-CP, việc công bố di chúc lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng có thể được thực hiện thông qua cuộc họp công khai hoặc không thông qua cuộc họp công khai, tùy trường hợp cụ thể. Đây là điểm mới quan trọng, giúp thủ tục công bố di chúc có khuôn khổ rõ ràng hơn so với trước đây, đồng thời tạo cơ sở để công chứng viên xử lý hồ sơ một cách thống nhất.
Đối với thủ tục công bố di chúc thông qua cuộc họp công khai, công chứng viên phải thực hiện các công việc quan trọng. Nếu di chúc lập bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch ra tiếng Việt và chứng thực chữ ký người dịch trước khi công bố; công chứng viên thực hiện niêm yết theo thủ tục để xác định những người có liên quan đến nội dung di chúc, gồm người thừa kế, người quản lý di sản, người quản lý di sản thờ cúng nếu có, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được nêu trong di chúc; chậm nhất 05 ngày làm việc trước ngày tổ chức cuộc họp, công chứng viên phải thông báo bằng văn bản cho những người liên quan biết về thời gian, địa điểm tổ chức cuộc họp.

Cuộc họp công bố di chúc được thực hiện tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng, với sự có mặt trực tiếp hoặc trực tuyến của những người đã được xác định là có liên quan đến nội dung di chúc. Trường hợp người đã được thông báo nhưng không tham dự thì cuộc họp vẫn được tiến hành theo thời gian, địa điểm đã thông báo. Tại cuộc họp, công chứng viên đọc toàn bộ nội dung di chúc cho người tham dự nghe, cung cấp thông tin và trả lời câu hỏi liên quan đến việc lưu giữ di chúc. Sau đó, công chứng viên gửi bản sao di chúc cho tất cả những người có liên quan, kể cả người đã được thông báo nhưng không tham dự. Bản sao di chúc phải có xác nhận và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng về việc sao từ hồ sơ gửi giữ di chúc; người nhận bản sao có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc.
Kết thúc cuộc họp, bản gốc di chúc được công chứng viên giao cho người được chỉ định giữ bản gốc trong di chúc hoặc trong hồ sơ nhận lưu giữ di chúc. Nếu người lập di chúc không chỉ định thì những người tham dự cuộc họp thống nhất chỉ định một người giữ bản gốc. Cuộc họp phải được lập thành biên bản và biên bản này được lưu trong hồ sơ lưu giữ di chúc. Đây là cơ chế rất quan trọng, bởi sau khi di chúc được công bố, bản gốc không nên bị giao tùy tiện cho một người bất kỳ; việc giao nhận cần rõ ràng để tránh tranh chấp về sau.
Đối với thủ tục công bố di chúc không thông qua cuộc họp công khai, công chứng viên vẫn phải thực hiện việc dịch di chúc nếu di chúc lập bằng tiếng nước ngoài và thực hiện niêm yết để xác định người có liên quan. Sau đó, công chứng viên gửi bản sao di chúc cho những người có liên quan đến việc công bố di chúc. Bản sao này cũng phải có xác nhận và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng về việc sao từ hồ sơ gửi giữ di chúc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày gửi bản sao di chúc mà không có ý kiến phản hồi từ những người có liên quan, công chứng viên bàn giao bản gốc di chúc cho người được chỉ định trong di chúc hoặc người được chỉ định trong giấy nhận lưu giữ; nếu người lập di chúc không chỉ định thì những người thừa kế theo di chúc thống nhất chỉ định một người giữ bản gốc. Người nhận bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc hoặc yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến việc gửi giữ di chúc.
Hồ sơ công bố di chúc phải được lưu trong hồ sơ lưu giữ di chúc. Theo Nghị định 104/2025/NĐ-CP, hồ sơ này bao gồm giấy tờ tùy thân của những người tham gia cuộc họp công khai trong trường hợp công bố thông qua cuộc họp; giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người lập di chúc đã chết; giấy nhận lưu giữ di chúc; hồ sơ niêm yết và tài liệu khác có liên quan. Việc lưu hồ sơ đầy đủ có ý nghĩa rất lớn nếu sau này phát sinh tranh chấp, khiếu nại hoặc yêu cầu đối chiếu về trình tự công bố di chúc.
5. Những lưu ý quan trọng khi gửi giữ và công bố di chúc
Trước hết, người lập di chúc nên xác định rõ mục đích của mình là chỉ gửi giữ di chúc hay vừa muốn công chứng di chúc, vừa gửi giữ di chúc. Nếu chỉ gửi giữ, tổ chức hành nghề công chứng chủ yếu thực hiện việc tiếp nhận, niêm phong, bảo quản và công bố theo quy định; nếu công chứng di chúc, công chứng viên còn xem xét thêm về năng lực, sự tự nguyện, nội dung và hình thức của di chúc. Trong những trường hợp di sản phức tạp, có nhà đất, có tài sản chung vợ chồng, có người thừa kế bắt buộc hoặc có nguy cơ tranh chấp, việc công chứng di chúc trước khi gửi giữ thường là lựa chọn an toàn hơn.
Thứ hai, người lập di chúc nên chỉ định rõ trong di chúc hoặc trong hồ sơ lưu giữ về người giữ bản gốc sau khi công bố, người quản lý di sản, người phân chia di sản, người quản lý phần di sản thờ cúng nếu có. Những chỉ định này không phải lúc nào cũng bắt buộc nhưng càng rõ thì càng giảm khả năng mâu thuẫn. Nếu không chỉ định, sau khi công bố di chúc, những người tham dự cuộc họp hoặc những người thừa kế theo di chúc phải thống nhất cử người giữ bản gốc; nếu không thống nhất được thì tranh chấp rất dễ phát sinh.
Thứ ba, người lập di chúc cần lưu ý về quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc. Bộ luật Dân sự 2015 cho phép người lập di chúc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào; nếu thay thế bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ. Vì vậy, nếu di chúc đang được lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng mà người lập di chúc lập bản mới, sửa đổi hoặc hủy bỏ bản cũ thì nên thông báo, cập nhật hoặc thực hiện thủ tục phù hợp tại tổ chức đang lưu giữ, tránh tình trạng sau này tồn tại nhiều bản di chúc nhưng không rõ bản nào là sau cùng.
Thứ tư, người được giao giữ di chúc ngoài tổ chức hành nghề công chứng phải ý thức đầy đủ nghĩa vụ của mình. Người giữ bản di chúc không được tùy tiện tiết lộ nội dung di chúc; không được tự ý sửa chữa, sao chụp, tiêu hủy, cất giấu hoặc giao cho người không có thẩm quyền. Khi người lập di chúc chết, người giữ di chúc phải giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố; việc giao nhận phải lập thành văn bản, có chữ ký của các bên và có ít nhất hai người làm chứng. Nếu người giữ di chúc cố tình che giấu, làm mất, làm hư hại hoặc tiêu hủy di chúc thì có thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự, thậm chí tùy tính chất hành vi có thể bị xem xét trách nhiệm pháp lý khác.
Thứ năm, người thừa kế khi yêu cầu công bố di chúc nên chuẩn bị hồ sơ chứng minh tư cách của mình thật đầy đủ. Thông thường cần có giấy chứng tử hoặc giấy tờ chứng minh người lập di chúc đã chết; giấy tờ tùy thân của người yêu cầu; giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ với người lập di chúc; giấy nhận lưu giữ di chúc nếu có; thông tin về những người thừa kế, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giấy tờ về tài sản nếu cần thiết cho việc xác định nội dung di chúc. Hồ sơ càng đầy đủ thì quá trình công bố càng thuận lợi, hạn chế việc phải bổ sung nhiều lần.
Cuối cùng, cần phân biệt rõ công bố di chúc với khai nhận di sản và phân chia di sản. Công bố di chúc chỉ là bước làm rõ nội dung di chúc cho những người liên quan; còn khai nhận hoặc phân chia di sản là thủ tục tiếp theo để xác lập quyền của người thừa kế đối với tài sản cụ thể. Sau khi di chúc được công bố, nếu các bên thống nhất và di chúc hợp pháp thì có thể thực hiện thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản; nếu có tranh chấp về hiệu lực di chúc, người thừa kế, tài sản hoặc cách hiểu nội dung di chúc thì các bên có thể phải yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết luận
Gửi giữ di chúc và công bố di chúc được lưu giữ là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo vệ ý chí cuối cùng của người lập di chúc và bảo đảm việc thừa kế được thực hiện minh bạch, đúng trình tự. Người lập di chúc có thể gửi bản di chúc cho cá nhân tin cậy giữ nhưng phương án lưu giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thường an toàn hơn vì có thủ tục niêm phong, giấy nhận lưu giữ, cơ chế chuyển giao hồ sơ và quy trình công bố rõ ràng. Khi người lập di chúc qua đời, người thừa kế có quyền yêu cầu công bố di chúc nếu chứng minh được tư cách của mình; công chứng viên sẽ thực hiện việc công bố theo quy định, gửi bản sao cho người liên quan, cho phép đối chiếu bản gốc và lập hồ sơ lưu giữ. Để tránh tranh chấp, người lập di chúc nên lập di chúc rõ ràng, cân nhắc công chứng di chúc, chỉ định người giữ bản gốc sau khi công bố và thường xuyên cập nhật di chúc khi tài sản hoặc hoàn cảnh gia đình có thay đổi.


Để lại một phản hồi